• Vietnamese
  • English
Lựa chọn đúng thiết bị làm sạch không khí

Theo số liệu được công bố bởi Cục khí tượng Trung Quốc, năm ngoái trên cả nước Trung Quốc, trung bình số ngày bị khói bụi bao phủ đã đạt con số cao nhất trong 52 năm qua. Những làn khói bụi này gây cho người dân không ít khó khăn trong sinh hoạt, đồng thời cũng khiến cho thị trường thiết bị làm sạch không khí trở nên sôi động.

Theo con số thống kê, từ tháng 1 đến tháng 8 năm  ngoái, lượng bán lẻ của thị trường thiết bị làm sạch không khí ở Trung Quốc tăng trưởng 70.9% so với cùng kỳ năm trước, kim ngạch tiêu thụ tăng trưởng 86.9%. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường mới này, có một vấn đề mới đặt ra cho Trung Quốc là làm thế làm để các thương hiệu trong nước vượt qua được các thương hiệu nước ngoài? Trong một thị trường với đa dạng các loại sản phẩm làm sạch, người tiêu dùng nên chú ý điều gì khi chọn mua các thiết bị này?

Khi khoảng thời gian khói bụi bao phủ ngày càng kéo dài, nhu cầu tiêu thụ các thiết bị làm sạch không khí của người tiêu dùng cũng ngày càng tăng lên. Năm ngoái, số người mua các thiết bị này qua mạng mua sắm Taobao của Trung Quốc đã tăng 131%; qua trung tâm thương mại trên mạng Jingdong đạt con số một tỉ Nhân Dân Tệ, kim ngạch bán lẻ tăng 420% so với cùng kỳ. Tại thị trường trên mạng, nghiệp vụ mua hàng từ nước ngoài cũng đang nóng lên. Trên thực tế, thiết bị làm sạch ở Trung Quốc rất tốt. Nguyên nhân chủ yếu của việc mua các thiết bị cùng loại có thương hiệu nước ngoài là do người tiêu dùng coi trọng nhân tố đánh giá chất lượng sản phẩm.

Sự lớn mạnh của các doanh nghiệp sản xuất thiết bị làm sạch không khí ở Trung Quốc bị các thương hiệu nước ngoài cạnh tranh khá mạnh mẽ, do đó các doanh nghiệp này cần phải tập trung để phát triển, đẩy nhanh các bước nâng cao kỹ thuật, đồng thời nghiên cứu phát triển một số sản phẩm có tính năng và giá cả ưu việt để chiếm lĩnh thị trường. Về khía cạnh kỹ thuật, trong thời gian đầu, hiệu quả làm sạch từ các thương hiệu trong và ngoài Trung Quốc không có cách biệt rõ rệt về hiệu quả, nhưng tồn tại được bao lâu thì lại có sự cách biệt. Do đó, các doanh nghiệp Trung Quốc cần nâng cấp phương diện kỹ thuật.

Tỷ lệ phổ cập thiết bị làm sạch không khí tại các quốc gia Âu Mỹ là trên 20%, Nhật Bản là 17%, trong khi tỷ lệ phổ cập các thiết bị này trong các gia đình ở Trung Quốc chưa đến 1%, do đó còn có nhiều không gian để phát triển.

Đây chính là cơ hội để các doanh nghiệp của Trung Quốc nắm lấy thời cơ chiếm lĩnh thị trường. Nhưng do ngành thiết bị làm sạch không khí tại Trung Quốc còn non trẻ nên đã đẩy người tiêu dùng đi đến chọn lựa các sản phẩm của nước ngoài.

Hiện nay, ngành thiết bị làm sạch không khí ở Trung Quốc còn tồn tại năm vấn đề sau: Sản phẩm, kỹ năng, tuyên truyền, chứng nhận và giá cả. Tại các cửa hàng tiêu thụ sản phẩm, nhãn mác của các thiết bị làm sạch không khí đều có nội dung giới thiệu tỷ lệ loại bỏ bụi PM2.5 và formaldehyde là trên 99%. Nhưng khi được hỏi ai là người đưa ra báo cáo kiểm định con số này, thì nhân viên bán hàng cho biết hiện nay thị trường thiết bị làm sạch không khí còn lộn xộn, chưa có một hệ thống bắt buộc thống nhất, báo cáo kiểm định thông thường là do nhà sản xuất đưa ra.

Theo các chuyên gia trong ngành, tiêu chuẩn quốc gia đối với thị trường thiết bị làm sạch không khí hiện nay chủ yếu gồm ba tính năng: An toàn điện khí, loại trừ vi khuẩn và làm sạch. Trong đó, tiêu chuẩn quốc gia về an toàn điện khí và loại trừ vi khuẩn là bắt buộc, còn tiêu chuẩn về tính năng làm sạch chỉ là cho có. Tính năng cơ bản của thiết bị làm sạch là lượng không khí sạch, đây là thuật ngữ thông dụng trên thế giới. Nhưng do ngành thiết bị làm sạch mới chỉ được quan tâm trong hai năm trở lại đây, nên người tiêu dùng không hiểu về tiêu chuẩn và thuật ngữ. Trong khi đó nhiều nhà sản xuất lại đơn giản chỉ lấy tỉ lệ loại bỏ vật chất có hại để quảng bá cho hiệu quả làm sạch của sản phẩm. Thế nhưng trên thực tế, tỷ lệ này về cơ bản không phải là phương pháp kiểm định theo tiêu chuẩn nhà nước.

Bản sửa đổi “Thiết bị làm sạch không khí” số 18801-2008 có nêu yêu cầu hoàn thiện chỉ tiêu kỹ thuật sản phẩm và phương pháp thử nghiệm tỉ mỉ đối với các chất gây ô nhiễm khác nhau, chuyển sang thực hiện phương pháp đánh giá bằng diện tích sử dụng và lượng không khí sạch, đồng thời hoàn thiện yêu cầu về tiêu chuẩn sản phẩm để người sử dụng dễ hiểu. Từ đó để người tiêu dùng thấy được, khi chọn mua thiết bị làm sạch không khí, không cần xem tỷ lệ loại bỏ vật chất có hại mà nên chú ý đến con số thể hiện lượng không khí sạch, nói cách khác, trong mỗi giờ thiết bị làm sạch không khí sản sinh ra được lượng thể tích không khí sạch. Về cơ bản, con số này không chịu ảnh hưởng bởi thời gian và thể tích của khu kiểm định. Con số càng lớn, diện tích sử dụng được cũng càng lớn. Thông thường chỉ số CADR đạt 0.1 là đã gần đạt đến chỉ tiêu diện tích sử dụng được. Nhưng phương pháp ước tính này chủ yếu được sử dụng trong tình hình ô nhiễm thông thường, còn với môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng thì người tiêu dùng nên chọn mua các thiết bị làm sạch tạo được lượng không khí sạch tương đối cao.

Tiêu chuẩn “Thiết bị làm sạch không khí” GB/T18801-2008 ra đời đầu tiên năm 2002. Chỉ nói riêng góc độ tiêu chuẩn, thì Trung Quốc không hề lạc hậu, chỉ là hơn chục năm trở lại đây, ngành thiết bị làm sạch luôn phát triển chậm chạp, số lượng các doanh nghiệp thì lác đác. Cho đến cuối năm 2011, cùng với việc cụm từ “bụi PM2.5” được người tiêu dùng biết đến, thì thị trường thiết bị làm sạch mới nhanh chóng phát triển. Mỗi ngành để phát triển hoàn thiện đều cần có thời gian. Chỉ trong hai năm ngắn ngủi, ngành thiết bị làm sạch khó có thể phát triển được như các ngành điện gia dụng đã trưởng thành khác.

Xem thêm: thiết kế thi công phòng sạchthiết kế thi công panel eps,puphòng sạch di động - clean booththiết bị phòng sạchairshower - buồng thổi khípassbox - cửa đưa hàng phòng sạchbfu - blower filter unitffu - fan filter unittủ quần áo phòng sạch - clean lockerhepa box - hộp chưa lọc,

sua chua cua cuonsua chua cua cuon tai hai ba trungsua chua cua cuon tai ha noisua chua cua cuon tai hoan kiemsua chua cua cuon tai ba dinhsua cua cuon, nha khoa gia retham my ranglam rang tham mytham my rang gia relam rang su chinh hang gia renan chinh rang gia relam rang tham my gia relam rang su gia reboc rang su tot nhatlam rang gia re, máy chiếuthuê máy chiếumáy chiếu cũmay chieuthue may chieumay chieu cu, ban may chieubán may chieu